@nguyett2703: Khép lại năm #2025

Nguyệt
Nguyệt
Open In TikTok:
Region: MD
Tuesday 30 December 2025 20:51:05 GMT
489
9
2
1

Music

Download

Comments

thuongw_55
thuongw_55 :
Sớm có đc lì xì không ạ
2025-12-30 21:32:19
1
To see more videos from user @nguyett2703, please go to the Tikwm homepage.

Other Videos

Bài văn viết về mẹ thu hút hơn 10M tym trên Dy Cô gái đưa ra một thử thách: Một là nhận ngay 100 tệ, hai là nhận 1.000 tệ nhưng phải bốc chọn đề bài và viết một bài văn khoảng 800 chữ. Một bác công nhân đã bốc trúng đề thi đại học năm 1957 với chủ đề là viết về “Mẹ của tôi”. Một bác nữa bốc trúng đề là “Một ngày của tôi”. Câu chữ trong bài mộc mạc, giản dị, nhưng lại khiến hàng triệu cư dân mạng không cầm được nước mắt. Bài văn “Mẹ của tôi” bác ấy viết: Hôm nay, tôi tình cờ gặp người ta phỏng vấn để làm video ngắn, còn bốc đề để viết văn nữa.  Trong nhóm công nhân ấy, vì tôi là người duy nhất từng học hết cấp ba nên hai cô gái chọn tôi và thật may, tôi bốc trúng đề “Mẹ của tôi”. Ký ức về mẹ chợt ùa về, khiến lòng tôi không yên. Mẹ đã ra đi được hơn 30 năm, nằm lại ở khu mộ cũ đầu làng. Dáng mẹ, nét mặt mẹ, từng cử chỉ quen thuộc như vẫn còn hiện hữu nơi đây, rõ ràng đến lạ. Cả đời mẹ chưa từng được thảnh thơi. Trời chưa sáng đã trở dậy, tối mịt mới ngả lưng. Trong nhà ngoài ngõ, lúc nào cũng là những nỗi lo không dứt. Quần áo mẹ mặc luôn là những bộ đã bạc màu vì giặt giũ, vá đi vá lại. Mẹ hiền lành, nhẫn nại, sống bao dung, chưa từng to tiếng với ai. Có chút gì tốt, mẹ luôn nhường người khác trước. Điều tôi nhớ nhất là những bữa cơm. Khi ấy cả nhà đông người đều ngồi quanh mâm nhưng mẹ chưa bao giờ ngồi xuống ăn cùng. Mẹ cứ đứng bên bếp, tay vẫn thoăn thoắt làm việc. Chờ chúng tôi ăn xong, mẹ mới liếc vào nồi, còn thừa thì ăn qua loa vài miếng, hết rồi thì thôi, chỉ cười bảo mình không đói. Ngày ấy ai cũng nghèo, giàu hơn kém chẳng là bao nhưng lòng người thì ấm, sống với nhau bằng tình nghĩa. Mẹ tôi chính là người hiền hậu nhất trong số ấy. Mẹ làm sủi cảo ngon lắm, hương vị ấy chính là điều đáng mong chờ nhất giữa những tháng ngày thiếu thốn. Tết là lúc mẹ vất vả nhất: giặt giũ, dọn dẹp, lo bếp núc, mệt đến mức lưng chẳng thẳng nổi, vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười. Nhìn chúng tôi hớn hở đốt pháo, mẹ còn vui hơn cả con cái. Quần áo dù cũ rách đến đâu, qua tay mẹ cũng được vá víu, giặt giũ cho tươm tất, sạch sẽ. Mỗi cái Tết đều khiến mẹ rã rời, nhưng trong ký ức tôi, mẹ lúc nào cũng hiền hòa, tươi cười. Khi ấy còn là thời tập thể, quanh năm hiếm hoi mới có rau tươi, đến mùa thu mới được chia lương thực. Ban ngày gặt lúa, ban đêm chia thóc cho từng nhà, chia suốt cả tối. Trời thu ở quê lạnh buốt, mẹ mặc phong phanh, mang được thóc về nhà, mẹ lạnh đến run người, chỉ có chiếc chăn mỏng quấn tạm quanh thân, chợp mắt chưa lâu thì trời đã sáng và một ngày nhọc nhằn mới lại bắt đầu. Mẹ dụi mắt, gượng dậy, lại tất tả lo từng bữa ăn cho cả nhà. Nhà đông người, cái nồi gang đun bằng củi nặng trịch, bê lên đặt xuống là việc nặng nhọc vô cùng. Nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu nổi thân hình gầy guộc của mẹ lấy đâu ra sức lực ấy. Mọi việc lớn nhỏ trong nhà ngoài ngõ, dường như đều đè cả lên đôi vai mẹ. Mẹ mất khi mới ngoài năm mươi, vì lao lực mà sinh bệnh. Mộ mẹ nằm ở ven làng, chỉ là một gò đất nhỏ, lặng lẽ, ít ai để ý. Mỗi lần về quê, tôi đều ra đó đứng một lúc, nói với mẹ vài câu như thể mẹ vẫn còn nghe thấy. Cả đời tôi làm lao động nặng nơi thành phố: Vác xi măng, buộc thép, leo giàn giáo. Tay vai chai sần, mệt mỏi triền miên nhưng mỗi khi nghĩ đến cảnh mẹ bê cái nồi gang nặng trĩu, nghĩ đến đêm mẹ co ro vì lạnh mà vẫn gắng gượng đến sáng, tôi lại thấy mình còn có thể chịu thêm. Mẹ chưa từng được hưởng an nhàn nhưng mẹ để lại cho tôi sự cứng cỏi trong xương thịt và trách nhiệm với gia đình. Cái mái nhà mà mẹ đã gồng gánh dựng nên, tôi phải tiếp tục gánh vác, giữ cho vững vàng. Cỏ trên mộ mẹ xanh rồi úa, úa rồi lại xanh như nỗi nhớ trong tôi, năm này qua năm khác, chưa từng vơi đi. Giờ đây tôi đã làm cha, cũng đã lên chức ông, vậy mà hơn 30 năm nay, chưa một lần được gọi một tiếng “mẹ”. Tôi nghĩ, đến ngày nào đó khi không còn đủ sức vác bao xi măng nữa, tôi sẽ trở về quê, nằm xuống bên gò đất ấy. Biết đâu khi ấy, nếu tôi gọi “mẹ”, mẹ sẽ nghe thấy. Tác giả: 安三山 (An Tam Sơn)
Bài văn viết về mẹ thu hút hơn 10M tym trên Dy Cô gái đưa ra một thử thách: Một là nhận ngay 100 tệ, hai là nhận 1.000 tệ nhưng phải bốc chọn đề bài và viết một bài văn khoảng 800 chữ. Một bác công nhân đã bốc trúng đề thi đại học năm 1957 với chủ đề là viết về “Mẹ của tôi”. Một bác nữa bốc trúng đề là “Một ngày của tôi”. Câu chữ trong bài mộc mạc, giản dị, nhưng lại khiến hàng triệu cư dân mạng không cầm được nước mắt. Bài văn “Mẹ của tôi” bác ấy viết: Hôm nay, tôi tình cờ gặp người ta phỏng vấn để làm video ngắn, còn bốc đề để viết văn nữa. Trong nhóm công nhân ấy, vì tôi là người duy nhất từng học hết cấp ba nên hai cô gái chọn tôi và thật may, tôi bốc trúng đề “Mẹ của tôi”. Ký ức về mẹ chợt ùa về, khiến lòng tôi không yên. Mẹ đã ra đi được hơn 30 năm, nằm lại ở khu mộ cũ đầu làng. Dáng mẹ, nét mặt mẹ, từng cử chỉ quen thuộc như vẫn còn hiện hữu nơi đây, rõ ràng đến lạ. Cả đời mẹ chưa từng được thảnh thơi. Trời chưa sáng đã trở dậy, tối mịt mới ngả lưng. Trong nhà ngoài ngõ, lúc nào cũng là những nỗi lo không dứt. Quần áo mẹ mặc luôn là những bộ đã bạc màu vì giặt giũ, vá đi vá lại. Mẹ hiền lành, nhẫn nại, sống bao dung, chưa từng to tiếng với ai. Có chút gì tốt, mẹ luôn nhường người khác trước. Điều tôi nhớ nhất là những bữa cơm. Khi ấy cả nhà đông người đều ngồi quanh mâm nhưng mẹ chưa bao giờ ngồi xuống ăn cùng. Mẹ cứ đứng bên bếp, tay vẫn thoăn thoắt làm việc. Chờ chúng tôi ăn xong, mẹ mới liếc vào nồi, còn thừa thì ăn qua loa vài miếng, hết rồi thì thôi, chỉ cười bảo mình không đói. Ngày ấy ai cũng nghèo, giàu hơn kém chẳng là bao nhưng lòng người thì ấm, sống với nhau bằng tình nghĩa. Mẹ tôi chính là người hiền hậu nhất trong số ấy. Mẹ làm sủi cảo ngon lắm, hương vị ấy chính là điều đáng mong chờ nhất giữa những tháng ngày thiếu thốn. Tết là lúc mẹ vất vả nhất: giặt giũ, dọn dẹp, lo bếp núc, mệt đến mức lưng chẳng thẳng nổi, vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười. Nhìn chúng tôi hớn hở đốt pháo, mẹ còn vui hơn cả con cái. Quần áo dù cũ rách đến đâu, qua tay mẹ cũng được vá víu, giặt giũ cho tươm tất, sạch sẽ. Mỗi cái Tết đều khiến mẹ rã rời, nhưng trong ký ức tôi, mẹ lúc nào cũng hiền hòa, tươi cười. Khi ấy còn là thời tập thể, quanh năm hiếm hoi mới có rau tươi, đến mùa thu mới được chia lương thực. Ban ngày gặt lúa, ban đêm chia thóc cho từng nhà, chia suốt cả tối. Trời thu ở quê lạnh buốt, mẹ mặc phong phanh, mang được thóc về nhà, mẹ lạnh đến run người, chỉ có chiếc chăn mỏng quấn tạm quanh thân, chợp mắt chưa lâu thì trời đã sáng và một ngày nhọc nhằn mới lại bắt đầu. Mẹ dụi mắt, gượng dậy, lại tất tả lo từng bữa ăn cho cả nhà. Nhà đông người, cái nồi gang đun bằng củi nặng trịch, bê lên đặt xuống là việc nặng nhọc vô cùng. Nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu nổi thân hình gầy guộc của mẹ lấy đâu ra sức lực ấy. Mọi việc lớn nhỏ trong nhà ngoài ngõ, dường như đều đè cả lên đôi vai mẹ. Mẹ mất khi mới ngoài năm mươi, vì lao lực mà sinh bệnh. Mộ mẹ nằm ở ven làng, chỉ là một gò đất nhỏ, lặng lẽ, ít ai để ý. Mỗi lần về quê, tôi đều ra đó đứng một lúc, nói với mẹ vài câu như thể mẹ vẫn còn nghe thấy. Cả đời tôi làm lao động nặng nơi thành phố: Vác xi măng, buộc thép, leo giàn giáo. Tay vai chai sần, mệt mỏi triền miên nhưng mỗi khi nghĩ đến cảnh mẹ bê cái nồi gang nặng trĩu, nghĩ đến đêm mẹ co ro vì lạnh mà vẫn gắng gượng đến sáng, tôi lại thấy mình còn có thể chịu thêm. Mẹ chưa từng được hưởng an nhàn nhưng mẹ để lại cho tôi sự cứng cỏi trong xương thịt và trách nhiệm với gia đình. Cái mái nhà mà mẹ đã gồng gánh dựng nên, tôi phải tiếp tục gánh vác, giữ cho vững vàng. Cỏ trên mộ mẹ xanh rồi úa, úa rồi lại xanh như nỗi nhớ trong tôi, năm này qua năm khác, chưa từng vơi đi. Giờ đây tôi đã làm cha, cũng đã lên chức ông, vậy mà hơn 30 năm nay, chưa một lần được gọi một tiếng “mẹ”. Tôi nghĩ, đến ngày nào đó khi không còn đủ sức vác bao xi măng nữa, tôi sẽ trở về quê, nằm xuống bên gò đất ấy. Biết đâu khi ấy, nếu tôi gọi “mẹ”, mẹ sẽ nghe thấy. Tác giả: 安三山 (An Tam Sơn)

About