@nt_huonq: Thuỵ Sĩ giữ lòng Hà Giang🌁🎢🗻 #xh #hagiang #hagiangloop #fyp #viralvideotiktok

Nguyễn Thị Hường
Nguyễn Thị Hường
Open In TikTok:
Region: VN
Tuesday 02 June 2026 13:55:29 GMT
12027
1668
63
40

Music

Download

Comments

hoan.xsr.155
Duy Hoàn Trịnh :
2026-06-05 03:07:18
1
xuandao_202
Xuân Đảo 2222 :
Cô tiên giũa núi rừng hùng vĩ Hà Giang, Tuyên Quang
2026-06-03 03:48:21
2
mr.thao.tourism
mr.thao.tourism :
Hà giang đẹp quá ạ🥰
2026-06-02 23:30:03
1
hungp2094gmail.com
𝐏𝐡ạ𝐦 𝐇ù𝐧𝐠 :
E dễ thương ❤️
2026-06-09 06:08:24
1
langiangthi65
Lan Hà Giang🫶 :
Cảnh đẹp người cũng đẹp💗
2026-06-03 00:17:04
1
quyhoang.com8702
Hoàng Trọng Quý :
Sao tui qua mà k thấy đoạn này ta
2026-06-03 23:12:18
1
quanmathip
Quân Mắt Hípp :
Nhìn lại muốn đi lại hà giang
2026-06-03 01:07:42
1
thanvantung03
Thân Văn Tùng :
Đẹp ha 🥰
2026-06-03 00:33:38
1
luynlun.986
Vân Nam nhỏ :
这是哪里,风景很美
2026-06-06 04:11:03
1
hoach.23
MẠNH HOẠCH²³ :
xinh gái
2026-06-02 23:00:56
1
vdj.hoang
VDJ Hoàng :
đẹp
2026-06-02 18:30:38
1
leesyhol
Ly Syhool :
xinh quá trời 😘😘😘
2026-06-06 05:47:57
1
huydu.998
D.U :
Xinh😁
2026-06-02 22:22:29
1
vinhdongm8
Vĩnh Đông-M8 :
Em thật đẹp
2026-06-03 05:11:22
1
pinkhung111
Hưng :
Xinh gái dễ thương quá
2026-06-04 02:45:16
1
tohoang1.9.9.x
Hoàng :
người đẹp cảnh đẹp❤️
2026-06-04 03:55:29
1
quanvo6990
Quân võ :
xinh gái
2026-06-02 19:26:12
1
nguyenthanhtam9779
Tâm :
Mịn
2026-06-02 15:23:18
1
phvfd6
phú vũ :
🥰🥰🥰 ai mà xinh dị [lovely]
2026-06-02 14:02:35
1
minhductq26078
Minh Đức TQ :
Và em là nàng tiên giáng trần 🥰
2026-06-10 01:38:05
1
thelight_97
Tuấn Anh :
Cảnh đẹp người đẹp còn j =
2026-06-11 20:03:33
1
user8061823777265
杨先生 :
美丽
2026-06-20 12:19:30
1
khait7403
khải❣️ :
chào e
2026-06-12 22:09:59
0
user4940055544738
Minh Tân :
Xinh e
2026-06-14 04:24:14
1
To see more videos from user @nt_huonq, please go to the Tikwm homepage.

Other Videos

Sinh vật phù du là những sinh vật nhỏ bé, thường là thức ăn của các loài cá lớn, nhỏ, vv...      Vì rằng các loài trong nhóm plankton chỉ có thể di chuyển theo chiều thẳng đứng tới vài trăm mét trong một ngày (một tập tính được gọi là di cư theo chiều thẳng đứng) nên việc dịch chuyển theo phương nằm ngang của plankton phụ thuộc hoàn toàn vào sự chuyển động của dòng nước chứa chúng. Điều này khác với các sinh vật tự bơi (Nekton), những sinh vật này thường lớn hơn, ví dụ mực, cá và các loài thú biển và có thể kiểm soát được sự di chuyển theo chiều ngang cũng như bơi ngược dòng nước. Plankton là những sinh vật khá nhạy cảm với những thay đổi về các tính chất lý hóa của nước.  Plankton có thể được chia thành Holoplankton và Meroplankton: Holoplankton: là những sinh vật dành toàn bộ vòng đời của nó sống trôi nổi; ví dụ: Copepods, Salps krill hay jellyfish. Meroplankton: Là bọn chỉ có một giai đoạn nhất định trong vòng đời sống trôi nổi (thường là trạng thái ấu trùng) ví dụ: sao biển, giáp xác, giun biển và hầu hết cá. Nếu dựa theo kích thước thì có thể chia Plankton thành các nhóm: Megaplankton, 2×10−1→2×100 m (20–200 cm) Macroplankton, 2×10−2→2×10−1 m (2–20 cm) Mesoplankton, 2×10−4→2×10−2 m (0.2 mm-2 cm) Microplankton, 2×10−5→2×10−4 m (20-200 μm) Nanoplankton, 2×10−6→2×10−5 m (2-20 μm) Picoplankton, 2×10−7→2×10−6 m (0.2-2 μm), chủ yếu là vi khuẩn Femtoplankton, < 2×10−7 m, (< 0.2 μm, nhỏ hơn 0,2 μm), bao gồm một vài loài virus biển Nếu dựa theo chức năng thì có thể phân chia Plankton thành các nhóm sau: Phytoplankton (từ gốc Hy Lạp phyton là thực vật), bao gồm các nhóm tảo sống gần mặt nước nơi có đầy đủ ánh sáng cho quá trình quang hợp. Zooplankton (từ gốc Hy Lạp zoon là động vật), bao gồm các động vật nguyên sinh, giáp xác và rất nhiều các động vật nhỏ khác mà chúng cũng có thể sử dụng các plankton khác làm thức ăn. Zooplankton cũng bao gồm trứng và ấu trùng của một số loài động vật lớn như cá, giáp xác, giun đốt... Bacterioplankton, gồm có vi khuẩn và archaea, chúng giữ một vai trò quan trọng trong việc hấp thụ các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước. Ngoài việc chúng nằm trong các cấp bên dưới của chuỗi thức ăn có vai trò quan trọng trong công nghiệp thủy sản, các hệ sinh thái sinh vật phù du còn đóng một vai trò trong các chu trình sinh địa hoá của các nguyên tố hóa học quan trọng, bao gồm cả chu trình cacbon của đại dương. Thực vật phù du, động vật phù du chủ yếu cung cấp carbon cho mạng lưới thức ăn thông qua, hoặc là chúng hô hấp để cung cấp năng lượng trao đổi chất, hoặc lúc chết chúng cấp cấp sinh khối hoặc ở dạng mảnh vụn thức ăn cho các sinh vật khác. Thông thường khi chúng nặng hơn nước biển, các vật liệu hữu cơ có xu hướng chìm xuống. Trong hệ sinh thái đại dương mở cách xa bờ biển, sự vận chuyển carbon này sẽ từ bề mặt nước xuống các phần biển sâu hơn. Quá trình này được gọi là bơm sinh học, và là một trong những lý do mà các đại dương tạo thành bể chứa cacbon lớn nhất trên Trái Đất. Có thể là tăng sự hấp thu khí carbon dioxide do các hoạt động của con người trong đại dương bằng cách kích thích tăng sản xuất sinh vật phù du thông qua việc cung cấp vi chất dinh dưỡng sắt như là một loại hạt giống. Tuy nhiên, kỹ thuật này có thể không được thực hiện ở quy mô lớn. Sự cạn kiệt oxy trong đại dương và sự sản sinh ra các sản phẩm metan (do sản xuất dư thừa sự tái khoáng hóa ở dưới sâu) là một trong những nhược điểm tiềm ẩm của phương pháp này.
Sinh vật phù du là những sinh vật nhỏ bé, thường là thức ăn của các loài cá lớn, nhỏ, vv... Vì rằng các loài trong nhóm plankton chỉ có thể di chuyển theo chiều thẳng đứng tới vài trăm mét trong một ngày (một tập tính được gọi là di cư theo chiều thẳng đứng) nên việc dịch chuyển theo phương nằm ngang của plankton phụ thuộc hoàn toàn vào sự chuyển động của dòng nước chứa chúng. Điều này khác với các sinh vật tự bơi (Nekton), những sinh vật này thường lớn hơn, ví dụ mực, cá và các loài thú biển và có thể kiểm soát được sự di chuyển theo chiều ngang cũng như bơi ngược dòng nước. Plankton là những sinh vật khá nhạy cảm với những thay đổi về các tính chất lý hóa của nước. Plankton có thể được chia thành Holoplankton và Meroplankton: Holoplankton: là những sinh vật dành toàn bộ vòng đời của nó sống trôi nổi; ví dụ: Copepods, Salps krill hay jellyfish. Meroplankton: Là bọn chỉ có một giai đoạn nhất định trong vòng đời sống trôi nổi (thường là trạng thái ấu trùng) ví dụ: sao biển, giáp xác, giun biển và hầu hết cá. Nếu dựa theo kích thước thì có thể chia Plankton thành các nhóm: Megaplankton, 2×10−1→2×100 m (20–200 cm) Macroplankton, 2×10−2→2×10−1 m (2–20 cm) Mesoplankton, 2×10−4→2×10−2 m (0.2 mm-2 cm) Microplankton, 2×10−5→2×10−4 m (20-200 μm) Nanoplankton, 2×10−6→2×10−5 m (2-20 μm) Picoplankton, 2×10−7→2×10−6 m (0.2-2 μm), chủ yếu là vi khuẩn Femtoplankton, < 2×10−7 m, (< 0.2 μm, nhỏ hơn 0,2 μm), bao gồm một vài loài virus biển Nếu dựa theo chức năng thì có thể phân chia Plankton thành các nhóm sau: Phytoplankton (từ gốc Hy Lạp phyton là thực vật), bao gồm các nhóm tảo sống gần mặt nước nơi có đầy đủ ánh sáng cho quá trình quang hợp. Zooplankton (từ gốc Hy Lạp zoon là động vật), bao gồm các động vật nguyên sinh, giáp xác và rất nhiều các động vật nhỏ khác mà chúng cũng có thể sử dụng các plankton khác làm thức ăn. Zooplankton cũng bao gồm trứng và ấu trùng của một số loài động vật lớn như cá, giáp xác, giun đốt... Bacterioplankton, gồm có vi khuẩn và archaea, chúng giữ một vai trò quan trọng trong việc hấp thụ các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước. Ngoài việc chúng nằm trong các cấp bên dưới của chuỗi thức ăn có vai trò quan trọng trong công nghiệp thủy sản, các hệ sinh thái sinh vật phù du còn đóng một vai trò trong các chu trình sinh địa hoá của các nguyên tố hóa học quan trọng, bao gồm cả chu trình cacbon của đại dương. Thực vật phù du, động vật phù du chủ yếu cung cấp carbon cho mạng lưới thức ăn thông qua, hoặc là chúng hô hấp để cung cấp năng lượng trao đổi chất, hoặc lúc chết chúng cấp cấp sinh khối hoặc ở dạng mảnh vụn thức ăn cho các sinh vật khác. Thông thường khi chúng nặng hơn nước biển, các vật liệu hữu cơ có xu hướng chìm xuống. Trong hệ sinh thái đại dương mở cách xa bờ biển, sự vận chuyển carbon này sẽ từ bề mặt nước xuống các phần biển sâu hơn. Quá trình này được gọi là bơm sinh học, và là một trong những lý do mà các đại dương tạo thành bể chứa cacbon lớn nhất trên Trái Đất. Có thể là tăng sự hấp thu khí carbon dioxide do các hoạt động của con người trong đại dương bằng cách kích thích tăng sản xuất sinh vật phù du thông qua việc cung cấp vi chất dinh dưỡng sắt như là một loại hạt giống. Tuy nhiên, kỹ thuật này có thể không được thực hiện ở quy mô lớn. Sự cạn kiệt oxy trong đại dương và sự sản sinh ra các sản phẩm metan (do sản xuất dư thừa sự tái khoáng hóa ở dưới sâu) là một trong những nhược điểm tiềm ẩm của phương pháp này.

About